Người Bắc sống lâu ở miền Nam thường nhớ nhất những món khó tìm đúng vị trong ấy: tương Bần, sấu, cốm non, chè lam, bánh đa đỏ, mì Chũ, miến dong, long nhãn, trà xanh của trung du. Giỏ quà quê Bắc Bộ mang vào Nam nên lấy những món khô, đóng kín, chịu được một hai ngày đường làm nền; món tươi chỉ thêm khi bay thẳng trong ngày.
Bài này nhìn cả vùng đồng bằng Bắc Bộ từ phía người nhận ở miền Nam: họ ở đâu, sống thế nào, nhớ món gì. Từng tỉnh có bài riêng trong danh mục; ở đây chỉ chọn và ghép những món đi được chặng Bắc Nam.
Người Bắc ở miền Nam thiếu gì
Ngày nay ở TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương cũ hay Cần Thơ có không ít cửa hàng bán đồ Bắc, từ giò chả tới bánh chưng, từ rau cải mèo tới mắm tôm. Người Bắc đi xa không còn thiếu thốn như trước. Nhưng thứ họ mong không hẳn là món Bắc nói chung, mà là đúng vị của làng quê mình: bát tương Bần, đĩa chè lam Thạch Xá, gói long nhãn Hưng Yên, cái bánh đa đỏ Hải Phòng. Hàng bán trong Nam phần nhiều đã đổi vị cho hợp khẩu vị chung hoặc không rõ làm ở đâu.
Vì vậy giỏ quà mang vào Nam nên đi theo người nhận, không theo danh sách đặc sản. Một người Nam Định cũ sẽ vui với gói kẹo Sìu Châu hơn hộp bánh đậu xanh; một người Hải Phòng sẽ mừng với bánh đa đỏ hơn ô mai Hà Nội. Hỏi người nhận quê ở đâu, nhớ món gì là bước đầu tiên.
Cũng có người đã sống trong Nam ba bốn chục năm, con cháu sinh ra ở đó. Với họ, quà quê đôi khi không để ăn cho no mà để ôn lại: ông bà ngồi pha ấm trà Bắc, bóc một gói chè lam, kể cho cháu nghe về làng. Giỏ quà lúc ấy là cái cớ để câu chuyện quê được kể tiếp, nên chọn món có chuyện để kể.
Điều thứ hai là thói quen sống. Người Bắc ở miền Nam nhiều người ở chung cư, nhà trọ, bếp nhỏ, ít thời gian nấu. Những món cần chế biến lâu như cá kho niêu, gà làm sẵn có khi thành gánh nặng. Món ăn ngay, món dùng trong bữa mà không mất công là món được quý nhất.
Món Bắc Bộ theo khả năng đi chặng Bắc Nam
Bảng xếp theo mức chịu đường, dựa trên tính chất món chứ không theo một sản phẩm cụ thể. Thời gian thật phụ thuộc cách làm, bao bì, nhiệt độ.
| Nhóm | Ví dụ món | Đi máy bay trong ngày | Đi tàu, xe một hai ngày |
|---|---|---|---|
| Khô, đóng kín | Mì Chũ, miến dong, bánh đa đỏ, long nhãn, kẹo, bánh nhãn, trà | Tốt | Tốt |
| Chai lọ có nước | Tương Bần, nước mắm, mơ ngâm | Ký gửi, bọc kỹ | Được nếu chai chắc |
| Bánh nếp, bánh mềm | Chè lam, bánh phu thê, bánh gai, bánh cốm | Được, ăn sớm | Rủi ro, mùa nóng nên tránh |
| Trái cây theo mùa | Vải, nhãn, bưởi, sấu | Được nếu xếp thoáng | Bưởi được, vải nhãn kém |
| Đồ tươi, đồ nấu | Cốm non, chả mực, cá kho, nem | Cần lạnh, theo quy định hãng | Không nên |
Nhìn bảng sẽ thấy hai nhóm đầu là xương sống của giỏ vào Nam, ba nhóm sau chỉ thêm khi đường ngắn và có cách giữ.
Sáu món người Bắc xa quê hay nhắc
Tương. Tương nếp kiểu Bắc, như tương Bần hay tương Cự Đà, là thứ chấm của rau muống luộc, đậu rán. Trong Nam có tương nhưng phần lớn là tương ngọt kiểu khác. Một chai tương bọc kỹ trong hành lý ký gửi là món quà thực dụng nhất.
Sấu. Mùa hè ở Hà Nội có sấu xanh nấu canh, sấu dầm; ngoài mùa thì có sấu ngâm đường, ô mai sấu. Sấu tươi khó tìm ở miền Nam; ô mai sấu, sấu ngâm đóng lọ kín là cách mang vị chua ấy đi xa.
Cốm và chè lam. Cốm non chỉ có mùa thu và nhanh mất mùi; nếu bay thẳng trong ngày và đúng mùa thì đáng mang. Chè lam bền hơn chút, là món mời trà quen của nhiều nhà Bắc.
Bánh đa đỏ. Sợi bánh đa của Hải Phòng để nấu bánh đa cua. Người nhận trong Nam có thể nấu với cua đồng xay đông lạnh sẵn có. Nhẹ, bền, chỉ cần hộp cứng cho khỏi gãy.
Mì, miến khô. Mì Chũ, miến dong là món nấu nhanh, hợp người bận. Nhẹ, không mùi, là nền tốt cho thùng quà.
Long nhãn và trà. Long nhãn để nấu chè, pha nước; trà xanh trung du hay trà sen để pha tiếp khách. Hai món khô, nhẹ, người lớn tuổi đặc biệt quý.
Ghép một thùng quà Bắc Bộ vào Nam
Một cách ghép thùng vừa tay cho chuyến bay hoặc chuyến tàu:
- Hỏi người nhận quê vùng nào, nhớ món gì, nhà có bếp không, có ai kiêng đường, kiêng mặn không.
- Chọn hai ba món khô làm nền theo quê người nhận: ví dụ mì Chũ và bánh đa đỏ cho người gốc Bắc Giang cũ, Hải Phòng.
- Thêm một món chai lọ nếu người nhận có bếp: tương hoặc nước mắm.
- Thêm một món ngọt mời khách: chè lam, kẹo, bánh nhãn, long nhãn.
- Nếu bay trong ngày và đúng mùa, thêm một món tươi: cốm, vải, nhãn.
- Đóng theo lớp: đồ chai ở đáy, đồ khô ở giữa, đồ giòn và đồ tươi ở trên; trà và bánh cách xa đồ có mùi.
Quy định chi tiết về chất lỏng, hàng có mùi, đồ đông lạnh khi bay thuộc danh mục mang quà lên máy bay; cách gửi theo xe, chuyển phát tuyến Bắc Nam thuộc danh mục gói và gửi. Bài này chỉ dừng ở chọn và ghép món.
Mùa nào gửi gì vào Nam
Mùa thu là mùa của cốm, món người Bắc xa quê nhắc nhiều nhất; ai bay vào Nam trong mùa cốm thì một gói cốm gói lá sen là quà đáng nhất, miễn là trao ngay trong ngày. Mùa hè là mùa vải, nhãn, sấu; vải và nhãn đi máy bay trong ngày được, đi tàu xe lâu thì dễ thâm, nên chọn long nhãn thay nhãn tươi.
Cuối năm, người Bắc trong Nam lo Tết, cần bánh đa nem để cuốn nem, miến để nấu canh, măng khô, mứt, chè lam, trà. Đây là mùa giỏ quà Bắc vào Nam nhiều nhất và cũng là mùa nhiều hàng đóng sẵn không rõ nơi làm, nên hỏi kỹ người bán và mua sớm. Bưởi cuối năm, vỏ dày, đi được đường dài hơn nhiều loại trái khác.
Lịch mùa chỉ là mốc thường gặp, năm sớm năm muộn tuỳ thời tiết. Trước khi định mang món theo mùa, gọi người nhà ở quê hỏi vụ năm nay đã vào chưa; danh mục lịch quà theo mùa của trang có bảng chi tiết từng tháng.
Mùa xuân sau Tết là mùa người xa quê trở lại Nam sau kỳ nghỉ, mang theo quà của chính nhà mình: bánh chưng còn lại, giò, nem, dưa hành. Những món này ngon nhưng là đồ đã nấu, cần lạnh; đi máy bay trong ngày và cho vào tủ ngay khi tới là cách an toàn.
Ghép theo quê của người nhận
Người Bắc trong Nam đến từ nhiều tỉnh; ghép theo quê sẽ trúng hơn ghép theo danh sách chung. Bảng dưới chỉ gợi ý những món khô, bền, đi được đường dài của từng vùng; bài riêng từng tỉnh trong danh mục có đầy đủ hơn.
| Quê người nhận (tỉnh mới) | Món khô, bền gợi ý | Món thêm nếu bay trong ngày |
|---|---|---|
| Hà Nội | Ô mai, trà sen, miến làng So, chè lam | Cốm non, bánh cốm |
| Hải Phòng (gồm Hải Dương cũ) | Bánh đa đỏ, bánh đậu xanh, tôm khô | Bánh gai Ninh Giang, vải |
| Quảng Ninh | Miến dong Bình Liêu, mực khô, chè | Chả mực giữ lạnh |
| Bắc Ninh (gồm Bắc Giang cũ) | Mì Chũ, bánh đa Kế | Bánh phu thê, vải |
| Hưng Yên (gồm Thái Bình cũ) | Long nhãn, tương Bần, bánh cáy | Nhãn lồng |
| Ninh Bình (gồm Hà Nam, Nam Định cũ) | Cơm cháy, bánh đa nem, kẹo Sìu Châu, bánh nhãn | Xíu páo, chuối ngự |
Nếu người nhận là con cháu sinh ra ở miền Nam, chưa từng sống ở quê, giỏ nên ít món hơn, kèm lời kể ngắn về từng món để họ hiểu vì sao món ấy là quà của ông bà, cha mẹ.
Tới nơi: giữ quà Bắc trong khí hậu nóng ẩm phương Nam
Miền Nam nóng quanh năm, mùa mưa ẩm cao. Đồ khô mang từ Bắc vào, vốn quen khí hậu có mùa hanh, dễ hút ẩm, ỉu, mốc hơn ở quê. Dặn người nhận cất đồ khô trong hộp kín, có gói hút ẩm nếu có, để xa bếp và xa cửa sổ nắng. Long nhãn, kẹo, bánh nhãn nên cho vào ngăn mát nếu chưa dùng ngay; trà để hộp kín ở chỗ mát.
Mì, miến, bánh đa đỏ, bánh đa nem chịu nóng tốt hơn, nhưng vẫn cần túi kín vì kiến và mọt rất nhanh tìm tới. Chai tương, nước mắm sau khi mở đậy kín, để chỗ mát, múc bằng thìa khô; tương để lâu ngoài nắng nóng dễ lên men chua.
Món tươi như cốm, bánh nếp, trái cây thì ăn sớm hơn so với ở Bắc, vì nóng làm chúng nhanh hỏng. Một mẹo hay là chia ngay khi mở thùng: phần ăn trong tuần để ra ngoài, phần còn lại cất tủ, như vậy không ai phải ăn vội cho kịp.
Những điều nên tránh khi mang quà Bắc vào Nam
Một vài lỗi hay gặp khiến giỏ quà mất giá trị, phần lớn đến từ việc mua theo ý người tặng mà quên điều kiện của người nhận:
- Mang quá nhiều món tươi: tới nơi người nhận không ăn kịp, phải bỏ. Một món tươi là đủ.
- Mang món người nhận ở Nam mua dễ, như bánh kẹo đóng hộp phổ thông, trái cây nhập khẩu.
- Để trà, bánh chung túi với mắm, cá khô: vài giờ là ám mùi, mất vị.
- Mang rượu không nhãn: nguy cơ methanol; nếu muốn tặng rượu, chọn chai có nguồn gốc rõ và hỏi người nhận có uống không.
- Mang gia cầm sống, thực phẩm không rõ nguồn: vừa có quy định kiểm dịch, vừa phiền cho người nhận.
- Gói kín đồ tươi trong túi ni lông khi trời nóng: hơi nước đọng làm trái cây úng, bánh ỉu.
Tránh được những lỗi này thì thùng quà nhỏ cũng đủ làm người xa quê vui cả tuần.
Lỗi cuối cùng ít ai nghĩ tới là quên hỏi. Mua cả thùng theo ý mình rồi mới biết người nhận đang kiêng đường, nhà không ai nấu, hay vừa có người khác gửi đúng món ấy. Một cuộc gọi ngắn trước khi đi mua tiết kiệm được nhiều hơn mọi mẹo đóng gói.
Câu hỏi thường gặp
Món quà quê Bắc nào bền nhất khi mang vào Nam?
Các món khô đóng kín bền nhất: mì Chũ, miến dong, bánh đa đỏ, long nhãn, kẹo, bánh nhãn, trà. Chúng nhẹ, ít mùi, chịu được một hai ngày đường và để được lâu khi tới nơi nếu cất khô mát.
Có nên mang cốm non vào Sài Gòn không?
Chỉ nên mang khi đúng mùa cốm và bay thẳng trong ngày, để người nhận ăn sớm. Cốm non nhanh khô và mất mùi, đi tàu xe một hai ngày thì kém thơm nhiều. Gói lá sen, để hộp cứng, không ép chặt.
Mang tương Bần, nước mắm lên máy bay vào Nam thế nào?
Tương và nước mắm là chất lỏng, thường phải để hành lý ký gửi, chai kín, quấn băng dính nút, bọc nhiều lớp túi, để đứng. Quy định cụ thể của từng hãng có thể khác, nên kiểm trên trang của hãng trước chuyến bay.
Người Bắc ở miền Nam đã có cửa hàng đồ Bắc, mang quà quê còn ý nghĩa không?
Vẫn có, vì thứ họ nhớ thường là đúng vị của làng mình, không phải món Bắc chung chung. Một chai tương làng, một gói chè lam đúng nơi làm mang ý nghĩa khác hàng bán sẵn. Hỏi người nhận nhớ món gì sẽ giúp chọn đúng.
Giỏ quà Bắc vào Nam bao nhiêu món là vừa?
Bốn đến sáu món là vừa cho một hộ gia đình: hai ba món khô làm nền, một món chai lọ nếu có bếp, một món ngọt mời khách, một món tươi nếu bay trong ngày. Nhiều hơn dễ phải bỏ bớt, nhất là ở nhà nhỏ.
Mang quà Bắc cho người lớn tuổi ở miền Nam nên chọn gì?
Người lớn tuổi thường quý trà, long nhãn, chè lam mềm, tương, cốm nếu đúng mùa. Tránh món quá dai, quá cứng, quá ngọt nếu họ kiêng; hỏi người nhà về chế độ ăn trước khi chọn.